Thứ sáu, ngày 31 tháng 10 năm 2014
 
GIỚI THIỆU VIỆN
TIN TỨC
VĂN BẢN PHÁP QUY
BIỂN ĐẢO VIỆT NAM
HỢP TÁC QUỐC TẾ
HOẠT ĐỘNG NCKH
HỘI ĐỒNG KHOA HỌC
ĐÀO TẠO
THƯ VIỆN
DIỄN ĐÀN THẢO LUẬN
CÁC ĐƠN VỊ TRỰC THUỘC
LỊCH CÔNG TÁC
CHI BỘ-CÔNG ĐOÀN-ĐOÀN TN
DIỄN ĐÀN THANH NIÊN
THÔNG TIN CẦN BIẾT
Tìm kiếm
Viện Kỹ Thuật Biển
Internet ()
Hot Links
Liên Kết
Tỷ giá - Vàng
loading ...
Dự báo thời tiết
loading ...

lượt truy cập
 
Viện Kỹ Thuật Biển
TIN TỨC ::.. Bảng thuỷ triều

Bảng dự tính Thủy Triều năm 2014 (cập nhật và bổ sung ngày 27/12/2013)

Viện Kỹ thuật Biển và bổ sung cập nhật Bảng tính thủy triều năm 2014

Các thuật ngữ và ký hiệu

1.      Thuỷ triều. Đó là hiện tượng dao động mực nước sông biển phát sinh bởi sự biến thiên tuần hoàn của lực hấp dẫn mặt trăng và mặt trời lên mỗi vị trí trên bề mặt quả đất (do quả đất quay quanh trục của nó và tất cả chúng đều chuyển động liên tục trong vũ trụ theo các quỹ đạo khác nhau).

2.      Sóng triều. Thủy triều lan truyền trong thủy quyển dưới dạng sóng dài, chu kỳ nhiều giờ, bước sóng hàng ngàn km và biên độ bé (so với bước sóng) và được gọi là sóng triều. Tính chất các sóng triều thành phần phụ thuộc vào độ lớn và chu kỳ biến thiên lực hấp dẫn giửa mặt đất với mặt trăng và mặt trời. Các sóng triều cơ bản là: sóng bán nhật triều mặt trăng chính (ký hiệu M2, chu kỳ 12 giờ 25 phút); sóng nhật triều mặt trăng chính (ký hiệu O1, chu kỳ 25 giờ 47 phút), sóng bán nhật triều chính (ký hiệu S2, chu kỳ 12 giờ), sóng nhật triều mặt trời chính (ký hiệu P1, chu kỳ 24 giờ 4 phút) và sóng lệch nhật triều chính (ký hiệu K1, chu kỳ 23 giờ 56 phút). Có khoảng 396 sóng triều thành phần có ý nghĩa.

3.      Sóng triều tại vùng biển ven bờ và cửa sông. Tính chất thủy triều tại vùng biển ven bờ và cửa sông rất phức tạp vì mực nước triều ở đây được hình thành bởi tổ hợp các sóng dài dạng sóng tiến và sóng đứng bị biến dạng mạnh do sự phản xạ, khúc xạ, tác động của lực Corriolis, lực ma sát, cấu trúc đáy, đường bờ biển và sông rạch.

Mực nước triều là cao trình mặt nước dao động theo thời gian so với mốc cao độ quy ước. Mực nước triều đo bằng đơn vị độ dài mét (m) hoặc xen ti mét (cm). Mỗi trị số mực nước triều ứng với một thời điểm xuất hiện gọi là giờ xuất hiên (GXH) tính bằng giờ và phút. Trong bảng dự tính thuỷ triều này, mực nước triều dự tính đo bằng cm và mốc cao độ quy ước là mốc Quốc gia. Đường cong biểu thị diễn biến mực nước triều theo thời gian gọi là đường quá trình mực nước triều.

4.      Chu kỳ triều. Chu kỳ triều phụ thuộc vào cơ chế tổ hợp các sóng triều thành phần. Thông thường, khoảng thời gian giữa hai lần chân triều trong một ngày gọi là chu kỳ triều.

5.      Nước lớn (đỉnh triều) Vị trí cao nhất của mực nước trong một chu kỳ triều.

6.      Nước ròng (chân triều): Vị trí thấp nhất của mực nước trong trong một chu kỳ triều.

7.      Nếu trong một ngày có hai lần nước lớn, hai lần nước ròng thì phân biệt nước lớn cao (NLC), nước lớn thấp (NLT) và nước ròng cao (NRC), nước ròng thấp (NRT).

8.      Thời gian triều dâng là khoảng thời gian từ lúc nước ròng đến lúc nước lớn kế tiếp.

9.      Thời gian triều rút là khoảng thời gian từ lúc nước lớn đến lúc nước ròng kế tiếp.

10. Độ lớn triều là hiệu mực nước nước lớn cao và mực nước nước ròng thấp trong ngày.

 

11. Kỳ nước cường và kỳ nước kém: cứ trong khoảng nửa tháng có 3-5 ngày triều lên xuống mạnh (lên rất cao, xuống rất thấp) gọi là kỳ nước cường; sau đó độ lớn triều giảm dần kéo dài chừng 4-5 ngày, tiếp đó là 3-5 ngày triều lên xuống rất yếu gọi là kỳ nước kém. Kế đó, độ lớn triều tăng dần trong vòng 4-5 ngày và bước vào kỳ nước cường tiếp theo. Các kỳ con nước lặp lại một cách tuần hoàn nhưng khác nhau về cường độ. Kỳ triều cường xảy ra vào tuần trăng rằm và đầu tháng âm lịch, khi mặt trăng, mặt trời và trái đất nằm trên một đường thẳng. Tuần triều kém có độ lớn triều cực tiểu xảy ra vào thời kỳ trăng non và trăng già. Trong trường hợp này, mặt trăng và mặt trời tạo với trái đất thành một góc vuông mà đỉnh là trái đất.

 

 

12.  Chế độ triều. Chế độ triều tại một vị trí nhất định được xác định theo chu kỳ giao động mực nước triều. Có hai loại triều cơ bản là bán nhật triềunhật triều. Với bán nhật triều, trong một ngày có hai lần triều dâng lên và hai lần triều rút, trong khi đó, nhật triều chỉ có một lần lên và một lần xuống. Ngoài hai loại cơ bản còn có 2 loại triều hỗn hợp là bán nhật triều không đềunhật triều không đều. Tại khu vực có chế độ bán nhật triều không đều, hầu hết các ngày trong tháng có có hai lần triều dâng và hai lần triều rút và một số ngày chỉ có một lần triều lên hoặc một lần triều rút. Khu vực có chế độ nhật triều không đều, hầu hết các ngày trong tháng là nhật triều và một số ít ngày là bán nhật triều.

 

13. ‘0’ hải đồ (‘0’ độ sâu) tại một vị trí là mực nước thấp nhất tại vị trí đó. Cao trình ‘0’ hải đồ so với mốc cao độ Quốc gia tại mỗi vị trí mỗi khác.

Đặc điểm chính thuỷ triều khu vực Nam Bộ

1.      Chế độ triều. Khu vực Nam Bộ chịu tác động của hai hệ thống thủy triều khác nhau xuất phát từ biển Đông và biển Tây Nam Bộ. Do đó, chế độ thủy triều dải ven bờ biển từ Vũng Tàu đến Mũi Cà Mau bán nhật triều không đều, trong khi đó, chế độ thủy triều dãi ven bờ biển từ mũi Cà Mau đến Hà Tiên nhật triều không đều. Mũi Cà Mau là khu vực chuyển tiếp.

 

 

2.      Độ lớn triều: Độ lớn triều vùng ven biển Đông Nam Bộ đạt khoảng 3,0-4,0m (lớn nhất Việt Nam), trong khi đó độ lớn triều vùng ven biển Tây Nam bộ đạt khoảng 0.8-1.2m.

3.      Diễn biến mực nước triều trong năm. Trong toàn khu vực ven bờ biển Nam Bộ, mực nước triều cao nhất năm thường xuất hiện vào các tháng X, XI. Trong các tháng VI và VII, mực nước triều thấp nhất năm.

4.      Diễn biến mực nước triều theo không gian. Mực nước triều cao nhất tại ven bờ biển Đông Nam Bộ có xu thế tăng dần từ Bắc (Vũng Tàu, Cửa Tiểu) xuống Nam (Gành Hào). Trong khi đó, tại vùng ven bờ biển phía Tây Nam Bộ, mực nước cực đại giảm theo hướng từ Nam (mũi Cà Mâu) lên Bắc (Rạch Giá, Hà Tiên).

 

5.      Các yếu tố phi triều ảnh hưởng đến dao động mực nước tại vùng ven biển Nam Bộ bao gồm:

        Sự dâng/rút mực nước do gió mùa và gió bão gây ra. Vào thời kỳ gió mùa Đông Bắc, gió “chướng” có thể làm mực nước vùng ven biển Đông Nam bộ dâng lên 10- 50cm (tùy thuộc vào cường độ và thời gian gió thổi) và mực nước vùng biển Tây hạ xuống 10-20cm. Các đợt gió mùa Tây Nam lớn trong mùa mưa có thể làm mực vùng biển Tây Nam Bộ dâng lên 10-30cm so với các ngày không gió. Nước dâng trong bão có thể đạt đến 50-110cm, tùy nơi và cấp bão.

        Tác động của dòng chảy sông Mekong đối với mực nước tại vùng ven biển Nam Bộ khá lớn. Những năm lũ lớn, mực nước vùng ven bờ biển có thể cao hơn năm lũ trung bình 15-30cm. Ngược lại, các năm lũ nhỏ, mực nước thấp hơn năm lũ trung bình 10-25cm. Các yếu tố mưa cục bộ, bốc hơi và thấm cũng ảnh hưởng nhất định đến dao động mực nước.

        Ảnh hưởng của lũ, mưa tại chỗ tăng lên đối với các điểm nằm sâu hơn trong đất liền.

Hiện nay, việc dự tính mực nước triều đã tính đến ảnh hưởng của các yếu tố phi triều trung bình nhiều năm.

6.      Mực nước triều tại các vị trí không có số liệu dự tính có thể được nội suy ra theo số liệu mực nước triều dự tính tại ít nhất hai điểm gần nhất (về mặt lan truyền sóng triều) và có chung chế độ triều.

Các điểm cần lưu ý khi dùng bảng dự tính tiều năm 2014

Tổng số có 33 điểm được dự tính mực nước triều, trong đó  có 7 trạm ven biển Việt Nam và 26 trạm trong các cửa sông và trong sông thuộc khu vực Nam Bộ. Giá trị mực nước tại các trạm trong sông và cửa sông (An Thuận, Bến Lức, Bến Trại, Biên Hòa, Bình Đại, Cà Mau, Cần Thơ, Chợ Lách, Đại Ngãi, Gành Hào, Hà Tiên, Hòa Bình, Mỹ Hòa, Mỹ Thanh, Mỹ Tho, Mỹ Thuận,  Năm Căn, Nhà Bè, Ông Đốc, Phú An, Rạch Giá, Tân An, Thủ Dầu Một, Trà Vinh, Vàm Kênh và Xẻo Rô) tính theo hệ cao độ Nhà nước. Mực nước tại trạm Hải văn và cảng biển (Vũng Tàu, KD17, Hòn Dấu, Phú Quốc, Quy Nhơn, Cầu Đá)cung cấp theo hệ cao độ Hải đồ. Tọa độ địa lý của các trạm này được ghi trong bảng triều. 

 

Các bảng dự tính thủy triều do PGS.TS Nguyễn Hữu Nhân, Phó Viện Trưởng Viện Kỹ Thuật Biển, cung cấp miễn phí qua WEB SITE của Viện Kỹ Thuật Biển kể từ năm 2010 đến nay. Theo thông kê, tác giả rất vui mừng vì số lượng người tải bảng dự tính thủy triều từ WEB SITE này ngày càng gia tăng. Tác giả cũng đã nhận được các phản hồi về giá trị sử dụng của các bảng dự tính thủy triều nói trên cho công việc của người dùng cũng như các ý kiến đóng góp để tác giả tiếp tục hoàn thiện chúng cho lần dự tính tiếp theo (thông qua ThS. Đinh Quang Vũ Bình - dqvbinh@yahoo.com – 0909210838). Xin chân thành cảm ơn người dùng đã tin cậy sử dụng các kết quả lao động tác giả.

Mỗi khi quý vị tải bảng dự tính thủy triều xuống để dùng, xin vui lòng thông báo cho chúng tôi để tiện việc thống kê và mở rộng phạm vi cung cấp. Nếu quý khách cần thêm thông tin hỗ trợ xin vui lòng liên hệ ThS. Đinh Quang Vũ Bình - dqvbinh@yahoo.com - 0909210838.

Rất mong nhận được sự phản hồi của các quý vị.

Tải về bảng triều 2014

(Cập nhật ngày 22/01/2014 11:24')

 

Việt nam - Hà nội
Tin mới
loading ...
Tin hoạt động Viện
loading ...
Phòng thí nghiệm
loading ...
QUẢNG CÁO
loading ...
Bản đồ Việt Nam
Thông Báo
loading ...
VIỆN KỸ THUẬT BIỂN,
Viện Khoa Học Thủy Lợi Việt Nam

Địa chỉ: 658 Võ Văn Kiệt, Phường 1, Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.
Điện thoại: 84.8.38362821 - Fax: 84.8.39245269
Người phụ trách Website : PGS.TS Lương Văn Thanh
 
••• Design by Viet Pho Co., Ltd. - 04/2009 •••